THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ CỘNG HÒA BÊ-LA-RÚT VÀ QUAN HỆ VỚI VIỆT NAM
I. GIỚI THIỆU CHUNG
Tên nước: Cộng hòa Bê-la-rút (the Republic of Belarus)
Thủ đô: Min-xcơ (Minsk), 1,7 triệu người
Ngày Quốc khánh: 03/7
Địa lý: Bê-la-rút nằm ở phần Đông châu Âu, tiếp giáp với các nước Nga, U-crai-na, Ba Lan, Lát-via và Lít-va; không có biển nhưng có vị trí địa chính trị khá quan trọng, là một trong những tuyến chính nối Nga với Tây Âu.
Diện tích: 207.600 km2
Dân số: 9.720.000 người (năm 2007), trong đó người Bê-la-rút chiếm 80%, người Nga - 13,2%, người Ba Lan - 4%
Khí hậu: Bê-la-rút nằm trong vành đai khí hậu ôn đới, thuộc vùng chuyển tiếp giữa khí hậu lục địa và khí hậu biển nên mùa đông lạnh, mùa hè mát, ẩm, lượng mưa hàng năm 500-700 mm. Tài nguyên khoáng sản ít, chủ yếu là rừng, than bùn, một số lượng ít dầu và khí thiên nhiên.
Ngôn ngữ: Tiếng Bê-la-rút và tiếng Nga đều là ngôn ngữ chính thức.
Tôn giáo: Đạo Chính thống (70%).
Đơn vị tiền tệ: Rúp Bê-la-rút, 1 USD = 2111 rúp Bê-la-rút (ngày 01/10/2008)
Thể chế: Bê-la-rút theo thể chế cộng hòa, đứng đầu là Tổng thống. Cơ quan lập pháp là Quốc hội gồm hai viện là Viện Cộng hòa (Thượng viện) và Viện Đại biểu (Hạ viện) với nhiệm kỳ 4 năm. Cơ quan hành pháp là Hội đồng Bộ trưởng, đứng đầu là Thủ tướng.
Các lãnh đạo chủ chốt hiện nay:
- Tổng thống: A.G. Lu-ca-sen-cô (với nhiệm kỳ 5 năm, tái trúng cử nhiệm kỳ 3 ngày 19/3/2006).
- Chủ tịch Hội đồng nước Cộng hòa (Thượng viện): B.V. Ba-tu-ra
- Chủ tịch Viện đại biểu (Hạ Viện): V.P. An-đơ-rây-tren-cô.
- Thủ tướng: X.X. Xi-đô-rơ-xki.
- Bộ trưởng Ngoại giao: X.N. Mác-tư-nốp.
II. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ
Cuối thế kỷ thứ IX-X, các bộ tộc Xla-vơ sống trên lãnh thổ Bê-la-rút ngày nay gia nhập nhà nước Nga Ki-ép cổ. Từ thế kỷ XIII-XVI hình thành dân tộc Bê-la-rút. Cuối thế kỷ XVIII, Bê-la-rút được giải phóng khỏi ách thống trị của phong kiến Ba Lan. Năm 1795, Bê-la-rút sáp nhập vào Nga. Tháng 12/1917, chính quyền Xô Viết được thành lập ở Bê-la-rút. Tháng 1/1919, nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Bê-la-rút được thành lập và gia nhập Liên bang Xô Viết ngày 30/12/1922.
Ngày 27/8/1991, Bê-la-rút tuyên bố độc lập, tách khỏi Liên bang Xô Viết và đổi tên thành Cộng hòa Bê-la-rút, gồm 6 tỉnh và 1 thành phố trực thuộc Trung ương. Bê-la-rút lấy ngày giải phóng đất nước khỏi ách phát-xít (03/7) làm Ngày Độc lập.
III. TÌNH HÌNH
1. Chính trị:
Sau khi tuyên bố độc lập năm 1991, Bê-la-rút đi theo đường lối đa nguyên chính trị song vẫn giữ chính quyền theo mô hình Xô Viết. Tháng 1/1994, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp mới xác lập chế độ Tổng thống và ngày 23/6/1994 ông A. Lu-ca-sen-cô được bầu làm Tổng thống. Tháng 11/1996 Bê-la-rút trưng cầu dân ý, thông qua Hiến pháp mới. Tháng 9/2001, ông A. Lu-ca-sen-cô tái đắc cử Tổng thống nhiệm kỳ 2. Tháng 11/2004 tại Bê-la-rút đã tiến hành trưng cầu dân ý cho phép Tổng thống có thể tái ứng cử trên hai nhiệm kỳ. Ngày 19/3/2006 đã diễn ra cuộc bầu cử Tổng thống Bê-la-rút lần thứ 3, Tổng thống A. Lu-ca-sen-cô tái đắc cử với số phiếu áp đảo 82,3%. Ứng cử viên của phe đối lập A. Mi-lin-kê-vích, tuy được Mỹ và phương Tây ủng hộ mạnh mẽ, chỉ giành được 6,1% số phiếu. Ở Bê-la-rút có các tổ chức đảng chính trị, xã hội khác nhau, nhưng Tổng thống Lu-ca-sen-cô không chấp nhận đảng nào là đảng thân Tổng thống. Tổng thống nói ổng không tham gia bất kỳ đảng nào, ông đã từng là đảng viên cộng sản và chưa ra khỏi đảng này. Tại bầu cử Quốc Hội (Hạ viện) Bê-la-rút 15/10/2008, các đại biểu đảng phái chính trị thân Tổng thống đã thắng cử lớn, giành được 100% số ghế đại biểu (110 ghế), các đảng đối lập lần đầu tiên được tham gia tranh cử đã không được ghế nào.
2. Kinh tế:
Bê-la-rút là nước có tiềm lực công nghiệp, nông nghiệp, khoa học, giáo dục và quốc phòng khá lớn, đứng thứ 3 trong số các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ. Sau khi tách ra độc lập năm 1991, Bê-la-rút được thừa hưởng một số cơ sở kinh tế, quân sự và khoa học tương đối tốt của Liên Xô cũ và có thế mạnh trong các ngành cơ khí, điện tử, quang học, hóa chất, phân bón, gỗ, giấy, cao su.v.v…
Những năm đầu độc lập, Bê-la-rút lâm vào khủng hoảng kinh tế trầm trọng. Từ 1994, Lãnh đạo Bê-la-rút chủ trương cải cách kinh tế từ từ, từng bước theo hướng kinh tế thị trường có điều tiết của nhà nước, ổn định tình hình để dần thoát khỏi khủng hoảng. Từ 1996, nền kinh tế Bê-la-rút có dấu hiệu phục hồi và bắt đầu tăng trưởng cao. Năm 2003, GDP tăng 6,8%, 2004 - 10,5%, 2005 - 9,2%, 2006 - 9,9%. Tuy Bê-la-rút gặp nhiều khó khăn trong giải quyết việc nhập khẩu năng lượng, đối phó với chính sách cấm vận kinh tế của Mỹ và phương Tây, kinh tế Bê-la-rút vẫn duy trì được mức tăng trưởng cao. Năm 2007 GDP của Bê-la-rút tăng 8,2%, sản xuất công nghiệp tăng 8,5%, sản xuất hành tiêu dùng – 8,2%, sản xuất lương thực – 4,1%, đầu tư cơ bản - 15%. Năm 2007 đầu tư nước ngoai vào Bê-la-rút đạt 5,5 tỷ USD, gấp 1,3 lần năm 2006, trong đó đầu tư trực tiếp là 1,5 tỷ USD, gấp đôi so với năm 2006. Kim ngạch buôn bán với nước ngoài đạt 53 tỷ USD trong đó xuất khẩu hàng hoá đạt 24,3 tỷ USD, nhập khẩu – 28,7 tỷ USD. Riêng 7 tháng đầu năm 2008, GDP Bê-la-rút tăng 10,5%, sản xuất ngũ cốc năm 2008 đạt kỷ lục trên 8 triệu tấn.
IV. Đối ngoại
Bê-la-rút đề cao độc lập tự chủ, tích cực tham gia các hoạt động trong khuôn khổ SNG, tán thành duy trì cơ cấu SNG, ký điều lệ SNG, tham gia Ngân hàng liên quốc gia, ký Hiệp ước an ninh tập thể, ký Hiệp định khung về Không gian kinh tế thống nhất giữa 4 nước: Nga, Bê-la-rút, U-crai-na và Ca-dắc-xtan, ký Hiệp định thành lập Liên minh thuế quan 3 nước Nga, Bê-la-rút, Ca-dắc-xtan.
Quốc hội Bê-la-rút đã phê chuẩn Hiệp ước START-1(2/1993). Tổng thống Mỹ thăm Bê-la-rút (15/01/1994), ký Hiệp ước khuyến khích và bảo hộ đầu tư, Hiệp định hợp tác khoa học kỹ thuật. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ thăm Bê-la-rút tháng 3/1994. Ngân hàng tái thiết và phát triển châu Âu cho vay 60 triệu USD, Ngân hàng Thế giới - 60 triệu USD, Quỹ tiền tệ quốc tế - 200 triệu USD.
Bê-la-rút chủ trương mở rộng quan hệ với các nước trong Phong trào Không liên kết, các nước Nam Mỹ - Ca-ri-bê, Trung Đông, các nước Châu Á, đặc biệt chú ý thúc đẩy quan hệ với Trung Quốc.
Nhà nước Liên minh Nga - Bê-la-rút
Bê-la-rút coi phát triển quan hệ toàn diện với Nga là hướng ưu tiên trong chính sách đối ngoại của mình. Ngày 2/4/1997, Tổng thống hai nước đã ký Hiệp ước thành lập Nhà nước Liên minh Nga - Bê-la-rút và một số văn kiện, cụ thể hóa tiến trình liên minh hai nước trên tất cả các vấn đề, lĩnh vực liên quan.
VI. QUAN HỆ VỚI VIỆT NAM:
Ngày 27/12/1991, Việt Nam công nhận độc lập của Bê-la-rút. Ngày 24/1/1992, Việt Nam và Bê-la-rút thiết lập quan hệ ngoại giao ở cấp Đại sứ. Bê-la-rút đã lập Đại sứ quán tại Việt Nam từ năm 1998. Ta đã lập Đại sứ quán tại Bê-la-rút tháng 10/2003 và cử Đại sứ thường trú đầu tiên tại Bê-la-rút tháng 3/2005.
Những năm gần đây, quan hệ hữu nghị và hợp tác nhiều mặt giữa Việt Nam và Bê-la-rút không ngừng phát triển. Hai bên trao đổi các đoàn cấp cao: Tổng thống A.G. Lu-ca-sen-cô (tháng 4/1997), Thủ tướng X.X. Xi-đo-rơ-xki (tháng 11/2004), Chủ tịch Hội đồng Cộng hoà Quốc hội G.V. Nô-vít-xki (tháng 5/2005), Đặc phái viên của Tổng thống A.G. Lu-ca-sen-cô, Chủ tịch Hạ viện V.N. Cô-nốp-li-ốp (2/2006) đã thăm chính thức Việt Nam; Chủ tịch nước Trần Đức Lương (tháng 8/1998), Thủ tướng Phan Văn Khải (tháng 9/2000), Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh (tháng 10/2002) và Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An (tháng 1/2003) đã thăm chính thức Bê-la-rút.
Năm 2007, nhiều đoàn Lãnh đạo các Bộ, ngành và địa phương hai nước đã sang thăm, làm việc, dự hội nghị, hội thảo ở Việt Nam và Bê-la-rút. Hai nước đã ký 6 Hiệp định và Thoả thuận hợp tác: Hiệp định giữa Chính phủ CH XHCN Việt Nam và Chính phủ CH Bê-la-rút về vận chuyển Hàng không; Hiệp định về hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực tiêu chuẩn hoá, đo lường và đánh giá sự phù hợp; Hiệp định về hợp tác khoa học giữa Viện Khoa học và Công nghệ CH XHCN Việt Nam và Viện Khoa học Quốc gia CH Bê-la-rút; Hiệp định giữa Chính phủ CH XHCN Việt nam và Chính phủ CH Bê-la-rút về công nhận lẫn nhau các văn bằng về giáo dục, học vị khoa học và học hàm; Hiệp định hợp tác giữa Toà án Tối cao CH XHCN Việt Nam và Toà án kinh tế CH Bê-la-rút; Thoả thuận giữa Bộ Văn hoá Thông tin CH XHCN Việt Nam và Bộ Văn hoá CH Bê-la-rút về hợp tác trong lĩnh vực văn hoá - nghệ thuật.
Từ 7-8/4/2008 Tổng thống Cộng hoà bê-la-rút A. Lu-ca-sen-cô đã thăm chính thức Việt nam. Hai Bên đã ký Tuyên bố chung và 13 Hiệp định, thoả thuận và hợp đồng thương mại trong các lĩnh vực lãnh sự, kiểm dịch thực vật, hải quan, thể thao – du lịch, ngân hàng nông nghiệp, dầu khí, nhập khẩu phân kali và máy kéo của Bê-la-rút v.v… Sau chuyến thăm hai Bên bắt đầu triển khai soạn thảo và thực hiện Chương trình hợp tác Việt nam – Bê-la-rút 2008 – 2010.
Về kinh tế – thương mại : Kim ngạch trao đổi hàng hóa giữa Việt Nam và Bê-la-rút trong năm 2007 đạt 75 triệu USD, tăng 51% so với năm 2006, trong đó xuất khẩu của Việt Nam sang Bê-la-rút đạt 10 triệu USD, tăng 17,6% so với năm 2006, xuất khẩu của Bê-la-rút sang Việt Nam đạt 65 triệu USD, tăng 58,9%. Trong 8 tháng đầu năm 2008 kim ngạch thương mại hai nước đạt 88 triệu USD, trong đó Việt nam nhập từ Bê-la-rút khối lương hàng hóa trị giá 54 triệu USD. Theo con số của Bê-la-rút, kim ngạch thương mại hai nước trong 8 tháng đầu năm là 110 triệu USD, cả năm 2008 sẽ đạt 150 triệu USD. Những mặt hàng xuất khẩu chính của Bê-la-rút sang Việt Nam là phân ka-li (chiếm 85,6% tổng trị giá nhập khẩu của Việt Nam từ Bê-la-rút), xe máy, ô-tô tải, máy kéo, phụ tùng máy móc cho ô-tô tải và máy kéo v.v... Những mặt hàng chủ yếu Việt Nam xuất sang Bê-la-rút là hải sản (chiếm 71% tổng trị giá xuất khẩu của ta sang Bê-la-rút), kế đến là gỗ và các sản phẩm gỗ, rau quả chế biến.
Xét về tổng thể, kim ngạch buôn bán giữa hai nước còn khiêm tốn, chưa tương xứng với tiềm năng của mỗi bên. Tỷ lệ nhập siêu của Việt Nam còn lớn (gấp 5 lần xuất khẩu của Bê-la-rút sang Việt Nam). Thời gian gần đây, xuất khẩu của Việt Nam sang Bê-la-rút, nhất là hàng nông - hải sản đã tăng lên.
UBLCP Việt Nam - Bê-la-rút về hợp tác kinh tế - thương mại và khoa học - kỹ thuật đã họp Khoá 5 tại Hà Nội tháng 12/2005 và Khoá 6 tại Min-xcơ tháng 10/2007.
Cộng đồng Việt Nam ở Bê-la-rút có khoảng 600 người, nhìn chung được Bạn tạo điều kiện tương đối thuận lợi trong học tập, cư trú và kinh doanh theo pháp luật sở tại. Tháng 12/2006, trước thời gian dự kiến thăm Việt Nam, Tổng thống A. Lu-ca-sen-cô đã cho phép những công dân Việt Nam đã lao động tại Bê-la-rút trước năm 1992 được định cư hợp pháp, lâu dài ở Bê-la-rút.
Cập nhật, ngày 11 tháng 11 năm 2008

